Tôi được sinh trưởng trong một gia đình kể việc làm lành lánh dữ là đủ bổn phận làm người! Tuy vậy, khi suy nghĩ cặn kẽ, tôi thấy mình chẳng bao giờ làm trọn được những việc ấy. Nên tận sâu kín trong cõi lòng, tôi không bao giờ có sự bình an, và vẫn luôn tự hỏi: “Phải chăng còn có một Đấng mầu nhiệm cao hơn Đấng đã tạo dựng và điều khiển vũ trụ này?” Nhưng tôi cũng không tìm được câu trả lời cho vấn đề này.

Hồi nhỏ tôi được theo học trường đạo, nhưng tôi cũng không hiểu được gì nhiều hơn là coi Đức Chúa Trời như một Đấng uy quyền, ai làm lành được lên thiên đàng, còn ai làm ác phải xuống hỏa ngục! Tôi có cảm tưởng sợ Thượng Đế này và không muốn gần gũi tương giao với Ngài. Thời gian trôi qua hột giống đạo ấy cũng bị tàn lụi theo năm tháng, vì không có nguồn nước Thánh Linh chăm tưới và không có sự giảng dạy đúng đắn.

Cuộc đời hằng ngày của tôi vẫn êm đềm trôi qua trong an bình và hạnh phúc. Chợt đến một tuần trước ngày đám hỏi, thì người chồng sắp cưới của tôi đã bị thương tàn phế trong một trận phục kích chiến tranh. Thế rồi, màu hồng cuộc đời của tôi đã được thay thế bằng màu xám u buồn. Trong lúc đau khổ tuyệt vọng, tôi muốn tìm kiếm van xin bất cứ một đấng thiêng liêng nào cứu tôi ra khỏi hoàn cảnh oan nghiệt này. Tôi đã thỉnh một tượng về nhà thờ, và cầu mong được phép lạ chữa bệnh cho chồng tôi, hoặc sự thay đổi tâm hồn chán chường của tôi. Nhưng rồi cũng chẳng có chuyện gì xảy ra, và càng làm cho tôi thên chua xót não nề, đến nỗi tôi đâm ra giận lây pho tượng vô tri vô giác đó!

Biến cố đau thương 30-4-1975 xảy ra trong đất nước và cũng giáng trên gia đình chúng tôi. Thế là màu xám cuộc đời lại biến thành màu đen tăm tối, khi vợ chồng chúng tôi bị chia ly đôi ngả. Tôi và đứa con trai 3 tuổi và gia đình qua Mỹ; còn chồng tôi và hai người con gái cùng nhiều người thân khác còn bị kẹt lại Việt nam. Trên con tàu viễn du qua xứ người, lòng tôi u sầu nặng trĩu, và đã tính mượn dòng nước để tẩy sạch nợ trần. Nhưng Đức Chúa Trời còn có nhiều chương trình trên đời sống tôi, và Ngài đã dùng tình mẫu tử để lôi cuốn tôi ra khỏi ý nghĩ ngông cuồng đó. Trước mặt tôi hình như cả bầu trời sụp đổ một cách tàn nhẫn, tôi đâm ra trách móc lung tung: Tại sao định mệnh và Thượng Đế đã quá bất công? Và tôi đã khóc rất nhiều trong tuyệt vọng đắng cay.

Trong đau khổ triền miên, tôi lại muốn đi tìm một lối thoát. Tôi thắc mắc tự hỏi: Đâu là một hướng đi, một lý tưởng và một sự an lành cho cuộc sống? Thế giới này từ đâu mà đến? Con người sinh ra để làm gì? Tại sao tôi phải khổ đau khóc lóc? Đấng Tạo Hóa là ai và ở đâu? v.v… Muôn vàn câu hỏi vương vấn trong đầu tôi trong cô đơn và bất mãn, cho đến khi tôi được các con cái Chúa trong Hội Thánh đến thăm viếng và chứng đạo. Tôi được chia xẻ về sự sáng tạo và yêu thương của Đức Chúa Trời, tội lỗi của con người, và con đường cứu chuộc của nhân loại. Tạ ơn Chúa, bức màn tăm tối trong trí óc tôi được vén mở, cùng lúc ánh sáng thiên thượng chiếu vào bày tỏ cho tôi một thế giới mới, một niềm tin và một hy vọng mới, nên tôi đã tiếp nhận Tin Lành cứu rỗi của Đức Chúa Trời . Thật vậy, trong sâu thẳm tấm lòng của mỗi người đến có khát vọng về Đức Chúa Trời, khi ai nghe theo ước vọng ấy tìm kiếm Ngài thì sẽ gặp và không còn hoài nghi thắc mắc nữa. Vì Ngài là Đấng Tạo Hóa yêu thương và uy quyền có thể làm thỏa mãn mọi nhu cầu cần thiết của con người. Ngài đã ban cho tôi sự suy nghĩ mới, động lực mới, niềm vui và sự an bình trong tâm hồn khi tiếp nhận Ngài. Giờ đây, tôi mới hiểu câu: “Phước cho người nào nương náu mình trong Chúa!” Tôi không biết phải diễn tả ra sao với trí óc tầm thường này, để nói lên những dòng cảm xúc và ân sủng mà Ngài đã ban cho tôi! Hoàn cảnh đau buồn và xa cách người yêu vẫn còn đó, nhưng những oán trách kêu ca được thay bằng những lời cầu nguyện tạ ơn, vì tôi biết rằng Chúa có một chương trình trên đời sống của gia đình tôi. Quyển Kinh Thánh đối với tôi bây giờ là một vật quí báu, một món ăn thuộc linh không thể thiếu mỗi ngày. Nhờ lời Chúa dạy dỗ, tôi có thể đứng vững trong vũng lầy đau khổ, và biết cảm tạ ơn Chúa đã chết đau đớn trên cây thập tự để cứu chuộc nhân loại. Chỉ có huyết báu của Ngài mới có thể rửa sạch lương tâm của chúng ta, mới giúp chúng ta có thể tương giao với Ngài, cùng đem đến cho chúng ta sự bình an và hy vọng trong cuộc sống. Nếu như tôi đã được mọi sự tôi ước mơ và cuộc sống yên vui hạnh phúc, thì đã chắc gì có ngày hôm nay đón nhận sự thương xót của Ngài? Lời Chúa dạy, “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại” làm tôi được an ủi thật nhiều. Hơn thế nữa, Chúa đã để sự việc tưởng là đau buồn xảy đến cho tôi, để cứu 9 linh hồn trong gia đình tôi, và chính chồng tôi ở Việt nam, cùng biết bao nhiêu linh hồn người thân và bạn bè của tôi đang chờ đợi sự làm chứng của chúng tôi. Nguyền xin ân sủng và sự yêu thương Ngài cứ tiếp tục gìn giữ chúng tôi mỗi ngày, hầu cho chúng tôi có thể đứng vững trong đức tin, cho đến ngày được gặp lại Ngài trên thiên quốc!

Còn về việc đoàn tụ gia đình của chồng tôi đã được Đức Chúa Trời vùa giúp một cách kỳ diệu và nhanh chóng. Số là kể từ phút chia ly, vợ chồng chúng tôi đã cố gắng lo liệu đủ mọi phương cách để có thể gặp lại nhau. Năm 1976, tôi đã nhờ một bệnh viện bên Pháp xin phép cho chồng tôi qua Pháp chữa bệnh, để có thể đoàn tụ sau đó, nhưng không được chính quyền Việt Nam chấp nhận. Năm 1978, tôi lại nhờ một thượng nghị sĩ Hoa-kỳ can thiệp với Hội Hồng Thập Tự và Bộ Ngoại Giao Việt Nam cho phép chồng tôi xuất cảnh đoàn tụ gia đình vì lý do nhân đạo, nhưng cũng không được Hà Nội trả lời. Trong lúc tuyệt vọng ấy, Hội Thánh đã hết lòng cầu nguyện cho sự đoàn tụ gia đình của vợ chồng chúng tôi, giữa lúc chúng tôi không còn hy vọng chạy chọt giấy tờ hay lo liệu một phương cách xuất ngoại nào khác. Vào cuối năm 1981, Đức Chúa Trời đã mở đường đưa dẫn chồng tôi sang Hoa kỳ, trước sự ngợi khen và vui mừng của tất cả mọi người. Ơn phước này nhắc nhở cho tôi biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng Hằng Có và Hằng Sống, Ngài luôn luôn lắng nghe những ai cầu khẩn danh Ngài.

Tạ ơn Chúa, vì chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, được nung đúc bằng tình yêu thương chăn sóc của Hội Thánh, được nuôi nấng bằng những bài giảng đầy ơn của các Mục sư, tôi cảm thấy một sự thay đổi lớn mạnh và kỳ diệu trong tâm linh tôi. Đức Thánh Linh thật sự sống động và dìu dắt tôi trong đời sống. Tôi thường nghe tiếng Chúa khuyên bảo, dạy dỗ và an ủi trong những lúc học lời Ngài. Ngài thường nâng đỡ tôi mỗi khi trơn trợt vấp ngã, thêm sức mới trong những lúc mệt mỏi yếu đuối. Nhiều lúc tôi tưởng tượng như Ngài là người Cha yêu dấu, rồi ngẩng mặt lên nhìn Ngài, và bắt gặp đôi mắt yêu thương từ ái đang âu yếm nhìn tôi… Tôi nhìn thấy tình yêu thương của Ngài phô bày trong từng cánh hoa hàm tiếu thắm tươi, và quyền năng của Ngài bày tỏ trên thiên nhiên vũ trụ. Nhìn thế giới chung quanh bao la vĩ đại, mà trí ócloài người không thể thấu hiểu tường tận, làm cho tôi lại càng cảm thấy rung động vô vàn khi nghĩ rằng: Con người tôi thật nhỏ bé tầm thường, vậy mà Đức Chúa Trời đã quá yêu thương tôi đến nỗi đã ban chính Con Ngài là Đức Chúa Giê-xu, để hy sinh chuộc tội lỗi và ban sự sống đời đời cho tôi và những ai tin nhận Ngài.

Hôm nay, tôi cúi đầu đếm lại các ơn phước Chúa đã ban, và lòng tôi vô cùng xúc động khi nghĩ Chúa sẽ mãi mãi ở bên cạnh tôi, lúc vui cũng như lúc buồn, lúc mạnh cũng như lúc yếu, lúc sống cũng như lúc chết, vì “Đức Chúa Giê-xu Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi” Ngài là người bạn chung thủy suốt đời, hằng chăm sóc và yêu thương tôi mãi mãi nên tôi đã tìm được nguồn hạnh phúc vô tận, cùng sự bình an và thư thái trong tâm hồn.

Trần thị Thanh-Phương